Archive Page 2

Dự án thu lệ phí Hải quan qua ngân hàng được chính thức triển khai tại Cục Hải quan Đồng Nai từ tháng 3/2007. Dự án thu hút 100% doanh nghiệp làm thủ tục tại Cục Hải quan Đồng Nai tham gia. Qua một thời gian thực hiện, dự án thể hiện rõ ưu việt nhưng để đạt được giai đoạn phát triển cao hơn thì vẫn còn vướng mắc.

Continue reading ‘Thu lệ phí hải quan qua ngân hàng: vướng mắc về cơ sở pháp lý’


Theo quy định, chỉ còn vài ngày nữa là hết hạn DN niêm yết phải nộp báo cáo tài chính kiểm toán cho niên độ 2008. Theo thông tin từ Sở GDCK TPHCM (HoSE) công bố ngày 1.4, hiện số báo cáo kiểm toán được đăng tải tính đến 31.3 mới đạt con số 60. Continue reading ‘Báo cáo kiểm toán 2008: Rối rắm chuyện trích lập dự phòng’


Theo quy định của Luật Kiểm toán Nhà nước, tất cả báo cáo quyết toán ngân sách địa phương phải được kiểm toán trước khi hội đồng nhân dân phê chuẩn.

Đồng thời, Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước….

Điều đó có nghĩa, việc sử dụng ngân sách của các địa phương hoàn toàn thuộc diện cần được kiểm toán bởi cơ quan kiểm toán. Thế nhưng, trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, có đến 50 % số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã “lọt cửa” Kiểm toán Nhà nước trong việc sử dụng ngân sách nhà nước tại địa phương mình.

Kiểm toán “trách” địa phương

Mặc dù luật đã quy định, Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm toán ngân sách địa phương, tuy nhiên, kể từ khi Luật Kiểm toán Nhà nước có hiệu lực (năm 2006) đến nay, Kiểm toán Nhà nước chưa nhận được bất kỳ một yêu cầu nào từ phía địa phương trong vấn đề kiểm toán ngân sách địa phương.

Theo thống kê, từ năm 2007 đến nay, Kiểm toán Nhà nước mới chỉ kiểm toán được 50% tỉnh, thành phố, huyện và 15% số xã, phường trong việc sử dụng ngân sách nhà nước. Điều đó cho thấy một thực tế, có đến ½ địa phương trong cả nước đã “xem nhẹ” vai trò của Kiểm toán Nhà nước, trong đó không loại trừ việc thiếu minh bạch trong việc sử dụng, thu – chi ngân sách nhà nước tại nhiều địa phương.

Theo ông Lê Đình Thăng, Phó kiểm toán trưởng Kiểm toán Nhà nước khu vực 1, ngay cả những địa phương được kiểm toán thì việc xử lý những kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước cũng mới chỉ dừng lại ở xử lý tài chính, còn việc xử lý trách nhiệm cao hơn của các cá nhân tổ chức phần lớn vẫn được các địa phương…bỏ qua.

Theo ông, một trong những nguyên nhân khiến cho các địa phương “né” Kiểm toán Nhà nước là do pháp luật quy định chưa cụ thể, rõ ràng. Ngoài những quy định trong Luật kiểm toán còn mang tính “chung chung” thì không có một văn bản nào quy định bắt buộc các địa phương phải thực hiện kiểm toán và sử dụng kết quả kiểm toán ngân sách trong hoạt động của địa phương.

Chính những kẽ hở này đã đưa đến một hệ quả là hầu hết các địa phương không những không chấp hành đầy đủ những quy định về kiểm toán mà còn xem nhẹ vai trò của Kiểm toán Nhà nước với tư cách là một công cụ cung cấp thông tin hữu hiệu cho việc quản lý thu – chi ngân sách của địa phương.

Và “lý” của địa phương

Theo ông Hoàng Đình Thạch, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, một nguyên nhân quan trọng khiến nhiều địa phương thiếu “mặn mà” với Kiểm toán Nhà nước là do chính tính chất đặc thù của cơ quan này.

Ông cho rằng, trong khi việc giám sát sử dụng ngân sách địa phương là một chu trình liên tục, bao gồm từ lập ngân sách, phê duyệt, phân bổ, quản lý, sử dụng đến quyết toán ngân sách… thì Kiểm toán Nhà nước chỉ tham gia mỗi khâu hậu kiểm, tức chỉ tập trung vào báo cáo quyết toán ngân sách.

Chính vì vậy, trong hoạt động của mình, Kiểm toán Nhà nước vẫn nặng về phát hiện các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai trái, vi phạm pháp luật trong quản lý hơn là việc đánh giá tính trung thực, khách quan, công khai minh bạch cũng như hiệu quả của việc sử dụng ngân sách với điều kiện thực tế của địa phương.

Bình luận về ý kiến trên, Tổng kiểm toán Nhà nước Vương Đình Huệ cho rằng, đúng là nhiệm vụ của kiểm toán là phải đánh giá được hai mặt tốt xấu của đối tượng được kiểm toán. Tuy nhiên, do thói quen nghề nghiệp của các kiểm toán viên là “vạch là tìm sâu” nên nhiều khi cũng quá chú trọng vào việc tìm ra sai phạm.

Còn theo ông Nguyễn Đình Bàng, Ủy viên thường trực Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái Nguyên, một trong những lý do khiến mối quan hệ giữa Kiểm toán Nhà nước và đại phương không hiệu quả là do đơn cơ quan kiểm toán đã xem nhẹ vai trò của hội đồng nhân dân tại địa phương, trong khi cơ quan này là cơ quan quyền lực nhà nước, hiểu rõ nội dung cũng như các đơn vị cần được kiểm toán trên địa bàn.

Thế nhưng, khi Kiểm toán Nhà nước về địa phương thì thông thường chỉ làm việc qua UBND tỉnh, các cơ quan chuyên môn và đơn vị được kiểm toán mà “bỏ qua” hội đồng nhân dân.

Còn theo bà Bùi Thu Hương, Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Nghệ An, nguyên nhân khiến cho địa phương “né” kiểm toán là do sự lệch pha trong hoạt động của mỗi bên. Thông thường, các địa phương sẽ phải công bố báo cáo quyết toán của mình vào tháng cuối năm.

Trong khi đó, thời gian để Kiểm toán Nhà nước hoàn thành một báo cáo kiểm toán về thu chi ngân sách trong năm của địa phương cũng phải cần 1-2 tháng. Do vậy, địa phương không thể ngồi chờ kết luận của Kiểm toán Nhà nước.

“Chỉ khi đổi mới, hoàn thiện được hệ thống pháp luật kết hợp với nỗ lực hết mình của cả hai bên thì mới có  thể đạt được kết quả cao…”, bà Hương nhấn mạnh.

Từ Nguyên – VnEconomy


Enron, một công ty năng lượng lớn nhất nước Mỹ phá sản kéo theo công ty tư vấn kt hàng đầu thế giới Arthurr Andersen sụp đổ. Đây chỉ là một minh chứng sống động của sự thất bại trong ngành kiểm toán Mỹ. Sai lầm của ngành kiểm toán Mỹ chủ yếu là do nhân viên kiểm toán (CPA) và các DN bị kiểm toán “ăn rơ” cùng nhau. Các CPA vốn là những người thiếu tính độc lập và ngay chính bản thân họ cũng không biết giữ tính thận trọng trong khi tác nghiệp và cả sự hoài nghi cần thiết.

  Continue reading ‘Nguyên nhân thất bại của các công ty kiểm toán Mỹ’


Một vài năm gần đây, trong đời sống kinh tế – xã hội ở Việt Nam đã xuất hiện một kênh thông tin mới được xã hội và nhân dân rất quan tâm. Đó là việc công khai kết quả kiểm toán tài chính nhà nước của Tổng Kiểm Toán Nhà Nước. Người dân và xã hội có thêm thông tin và sự đánh giá về tình hình tài chính nhà nước, tài chính quốc gia và trực diện là tình hình quản lí, tập trung, sử dụng ngân sách nhà nước. Đây là những đánh giá mang tính chuyên môn, khách quan về sự tin cậy của thông tin tài chính, sự chuẩn xác của các khoản thu, của những khoản chi ngân quỹ.

Đồng thới cũng thấy rõ những sai phạm, những khiếm khuyết của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ quản lí và sử dụng tiền, tài sản của nhà nước, của nhân dân cho việc công, cho lợi ích chung. Không giống như Quốc hội, Hội đồng nhân dân sử dụng kết quả kiểm toán nhà nước cho các quyết sách và điều hành đất nước, công chúng và xã hội xem xét và đánh giá kết quả kiểm toán để củng cố lòng tin về sự minh bạch của Chính phủ, góp thêm tiếng nói và dư luận để cảnh báo, răn đe và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm trước dân,trước nhà nước. Có thể nói, cùng với sự hình thành hệ thống kiểm toán ở Việt Nam trong thời kì đầu của công cuộc đổi mới kinh tế, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã được hình thành và đi vào hoạt động là một đòi hỏi và là một tất yếu khách quan trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, đảm bảo và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lí nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát tình hình thu, chi và quản lý ngân sách nhà nước (NSNN), tình hình quản lý và sử dụng ngân quỹ quốc gia , các nguồn lực tài chính công, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, đấu tranh chống tệ lãng phí, tham nhũng trong nền kinh tế.

Với chức năng kiểm tra xác nhận tính đúng đắn,trung thực, hợp pháp của thông tin về ngân quỹ nhà nước, về số liệu NSNN; kiểm tra tính tuân thủ pháp luật tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng NSNN và tài sản công của các đơn vị, tổ chức có sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước, KTNN đã thực hiện hàng chục nghìn cuộc kiểm toán với quy mô khác nhau tại các đơn vị có sử dụng NSNN, tiền và tài sản nhà nước thuộc hầu hết các lĩnh vực; kể cả lĩnh vực dự trữ quốc gia,an ninh, quốc phòng và hoạt động kinh tế của Đảng. Ngoài các cuộc kiểm toán theo kế hoạch hàng năm, KTNN còn thực hiện nhiều cuộc kiểm toán đột xuất theo yêu cầu của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,của Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền.

Bằng kết quả của hoạt động kiểm toán,KTNN đã phát hiện và kiến nghị tăng thu, giảm chi và đưa vào quản lý qua NSNN hàng chục nghìn tỷ đồng. Đó là những kết quả trực diện, có giá trị rất cụ thể. Điều đó có ý nghĩa quan trọng hơn là hoạt động và kết quả của họat động kiểm toán đã cung cấp những thông tin kịp thời, có độ tin cậy và tính thuyết phục cao cho Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cẩp trong quá trình quản lý, điều hành và sử dụng NSNN, nhất là quá trình quyết định dự toán NSNN, quyết định phương án phân bổ ngân sách, phê chuẩn, quyết toán NSNN. Đồng thời kết quả kiểm toán đã giúp các Bộ, nghành và cá cơ quan có căn cứ đánh giá, đúc rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo đảm tính trung thực, minh bạch,hiệu qủa, kinh tế và tiết kiệm. Kiểm toán đã phát hiện nhiều sơ hở, bất hợp lý về cơ chế chính sách hiện hành trong lĩnh vực quản lý điều hành ngân sách, trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, các chương trình,dự án v.v.. để kịp thời kiến nghị với Chính phủ,Quốc hội và cơ quan chức năngnghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của nền kinh tế chuyển đổi, góp phần hoàn thiện và nâng cao quyền lực của nhà nước pháp quyền XHCN.Thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN đã giúp các đơn vị được kiểm toán có cái nhìn toàn diện và đúng đắn hơn về thực trạng tài chính, về chất lượng công tác quản lý kinh tế tài chính, kịp thời phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện cố tình vi phạm pháp luật về quản lý kinh tế, tiền và tài sản của Nhà nước, góp phần tích cực, có hiệu quả cao vào cuộc đấu tranh chống gian lận, tham nhũng và lãng phí, hạn chế thất thoát tài sản, tiền bạc của dân, của nước.

Là một cơ quan không có tổ chức tiền thân, chưa có tiền lệ trong cơ cấu tổ chức Nhà nước ở Việt Nam, thời gian hoạt động chưa dài nhưng KTNN đã khẳng định vai trò, vị trí trong hệ thống của các cơ quan kiểm tra, kiểm soát tài chính của Nhà nước; khẳng định sự phù hợp trong tiến trình cải cách hành chính ở nước ta và hội nhập kinh tế quốc tế. Luật KTNN là công cụ để tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý, sử dụng ngân sách Nhà nước, tiền và tài sản Nhà nước,góp phần làm lành mạnh minh bạch nền tài chính quốc gia. KTNN là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính Nhà nước do Quốc hội thành lập.Hoạt động kiểm toán Nhà nước phục vụ cuộc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngấn sách,tiền và tài sản của Nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước.Về nguyên tắc, KTNN hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và trung thực, khách quan. Đây là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt quá trình hoạt động của KTNN, đảm bảo cho KTNN hoạt động có hiệu quả, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính và thông lệ quốc tế. Để KTNN xứng đáng và thoả mãn tốt hơn kì vọng của công chúng và tham gia cùng nhà nước, nhân dân duy trì một nền tài chính quốc gia có tiềm lực mạnh, minh bạch, hiệu quả cần phải thống nhất về nhận thức, triển khai đồng bộ các giải pháp:

Một là, Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN, là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”. Cần thấy rằng,KTNN là một bộ phận trong hệ thống tổ chức của nhà nước pháp quyền, thực hiện quyền lực của nhân dân thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát và giám sát việc sử dụng NSNN, tài sản công (là những đồng tiền được đóng góp từ mồ hôi công sức của dân) cần có sự thống nhất về nhận thức, quan điểm về sự phân công nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cơ quan hành pháp, tư pháp và lập pháp trong hoạt động kinh tế, tài chính để tạo ra sự đồng thuận và ủng hộ, hợp tác cũng như việc giám sát của các ngành, các cấp và toàn xã hội đối với hoạt động kiểm tra, kiểm soát chi tiêu NSNN, vì một nền tài chính lành mạnh.

Hai là, minh bạch và công khai về tài chính là một trong các tiền đề, điều kiện quan trọng để phát triển, để hội nhập kinh tế.KTNN là cơ quan kiểm tra tài chính độc lập của một quốc gia, chịu trách nhiệm đánh giá độ trung thực của báo cáo tài chính; tính kinh tế và hiệu quả của hoạt động quản lý; nếu những thông tin kiểm toán được công bố công khai rộng rãi sẽ làm tăng thêm niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tạo điều kiện để xã hội và người dân được quyền tham gia giám sát. Bởi vậy, công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán là việc làm cần thiết và phù hợp luật pháp, thông lệ và nguyên tắc quốc tế.

Ba là, cần tôn trọng tối đa tính độc lập của KTNN, đặc biệt là trong quyêt định kế hoạch kiểm toán và tiến hành các hoạt động kiểm toán. Tính độc lập là vấn đề cốt lõi và xương sống của hoạt động kiểm toán, được hiểu theo cả hai khía cạnh:kiểm toán phải hoàn toàn độc lập,khách quan vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ và phải được đảm bảo sự độc lập bằng các quy định, các chế tài để tránh mọi sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp. Khi tiến hành hoạt động nghiệp vụ, kiểm toán có thể tiếp cận đầy đủ các bằng chứng và nguồn gốc thông tin; vô tư và khách quan trong thu thập, xem xét và đánh giá các thông tin, từ đó có những kết luận, xác nhận tin cậy về thực trang hoạt động kinh tế tài chính, về sự đầy đủ và chính xác của thông tin. Hoạt động kiểm toán và kết quả của kiểm toán làm yên lòng những người sử dụng thông tin kế toán, sử dụng kêt luận của kiểm toán. Đó là những kết luận có bằng chứng đã được đánh giá. Quốc hội,Hội đồng nhân dân hoàn toàn yên lòng và có căn cứ pháp lý để thảo luận, đưa ra nghị quyết về những vấn đề kinh tế-tài chính. Cần có cơ chế đảm bảo và kiểm tra tính độc lập, khách quan của từng kiểm toán viên trong mỗi cuộc kiểm toán.

Kiểm toán Nhà nước có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ, độ tin cậy và tính hiệu quả của các khoản thu chi ngân sách nhà nước. Ý kiến của KTNN là căn cứ tin cậy. Để đạt được điều đó KTNN phải xem xét, đánh giá thông tin một cách khách quan, chỉ tôn trọng pháp luật và phản ánh đúng sự thật. Kiểm toán và nâng cao phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên, đảm bảo cho kiểm toán viên có tiếng nói độc lập khách quan.

Bốn là, KTNN không chỉ dừng lại ở kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ mà cần triển khai và đẩy mạnh loại hình kiểm toán hoạt động. Qua kiểm toán hoạt động sẽ có điều kiện xác định tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong hoạt động thu-chi tài chính Nhà nước và những thất thoát do chi sai mục đích, sai chế độ cũng như khuất tất trong quyết định đầu tuư hoặc thực hiện chương trình,dự án…Đồng thời, cần sớm triển khai kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu các Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước hoặc Nhà nước nắm cổ phần chi phối.

Năm là, khẩn trương khôi phục và tạo lập hệ thống kiểm soát nội bộ trong từng cơ quan,từng tổ chức, đảm bảo mọi quy trình nghiệp vụ,quy trình hoạt động, đặc biệt các quy trình liên quan đến tài sản ngân quỹ; chọn lựa, bổ nhiệm, sắp xếp nhân sự…được quy định chặt chẽ, hợp lý, được tuân thủ nghiêm ngặt. Tăng cường, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chế độ công vụ của công chức, khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người phát huy quyền làm chủ theo pháp luật, phát hiện và đấu tranh với hiện tượng vi phạm, nhũng nhiễu trong quản lý tài chính Nhà nước.

Sáu là, KTNN phải phục vụ vô điều kiện các yêu cầu của cơ quan dân cử. KTNN là công cụ kiểm tra, kiểm soát tài chính nhà nước, là cơ quan chuyên môn do Quốc hội lập. Hoạt động kiểm toán nhà nước phải có những đánh giá và xác nhận rất khách quan về thông tin tài chính, ngân sách.Với dự toán và quyết toán ngân sách do chính phủ trình ra Quốc hội, kiểm toán phải đưa ra đánh giá chính thức về độ tin cậy của thông tin,sự khẳng định từ góc độ chuyên môn về số liệu có thể chấp nhận, những số liệu chưa thể chấp nhận và bằng chứng về những nhận định đó. Chính KTNN, chứ không phải ai khác cần đưa ra sự xác nhận về tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính,báo cáo quyết toán ngân sách, tính tuân thủ luật pháp, tính kinh tế, tính hiệu lực, tính hiệu quả trong quản lý kinh tế, tài chính, trong quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Báo cáo kiểm toán của KTNN phải là một trong những căn cứ quan trọng, không thể thiếu để Quốc hội, Hội đồng nhân dân thảo luận, quyết định các vấn đè kinh tế, tài chính và ngân sách; đồng thời cũng là căn cứ để thực hiện các hoạt động giám sát tối cao. Tất nhiên cần sử dụng các thông tin trên báo cáo kiểm toán sao cho có hiệu quả. Cần tôn trọng quy trình cung cấp thông tin, đánh giá thông tin thật hiệu lực, hiệu quả.

Kiểm toán nhà nước, với chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp, độ tin cậy của các thông tin, số liệu về NSNN, về hoạt động tài chính nhà nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng, độ tin cậy của thông tin tài chính-kế toán. Thông tin và ý kiến của KTNN cung cấp cho Chính phủ, Quốc hội, làm căn cứ cho việc xem xét đề ra các quyết định ở tầm vĩ mô, thực hiện việc giám sát các hoạt động tài chính, phân bổ và sử dụng nguồn lực.

Bằng hoạt động chuyên môn, KTNN chỉ ra cái được, cái chưa được trong quản lý thu, chi NSNN với bằng chứng pháp lý, nghiệp vụ chuyên môn xác nhận só đúng, số tin cậy của thu chi công quỹ, dự toán thu, chi; của số thực thu, thực chi trong quyết toán ngân sách để Quốc hội, Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận, quyết định. Quyết định của Quốc hội, Hội đồng nhân dân được dựa trên nhiều căn cứ, không chỉ kinh tế mà còn cả chính trị,xã hội. Những căn cứ mang tính chuyên môn, có chứng lý của KTNN rất quan trọng. Quốc hội, HĐND chỉ có thể thực hiện tốt chức năng, chỉ có thể đảm bảo được thực quyền trong các quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách, phê chuẩn, quyết toán và giám sát tình hình thực hiện nghị quyết của Quốc hội, của HĐND về tài chính, ngân sách khi nhận được sự trợ giúp đắc lực của các cơ quan chuyên môn. Với hoạt động độc lập, theo nguyên tắc khách quan và chỉ tuân theo pháp luật, KTNN là công cụ quan trọng thực hiện quyền lực của nhân dân bằng kiểm kê và kiểm soát trong xây dựng và quản lý đất nước. Ý kiến và sự xác nhận của KTNN là sự đảm bảo độ tin cậy của các thông tin tài chính.

Tóm lại, KTNN là công cụ kiểm tra tài chính của nhà nước để thực hiện quyền lực của nhân dân bằng kiểm kê, kiểm soát. Ý kiến và xác nhận của kiểm toán Nhà nước là bảo đảm sự tin cậy của các thông tin tài chính ngân sách. Xã hội và công chúng kỳ vọng rất nhiều vào thông tin và kết luận của KTNN. Hy vọng KTNN sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng hoạt động tài chính, ngân sách, tạo dựng và củng cố lòng tin của dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Đặng Văn Thanh (Tạp chí Kiểm toán


Ngày 27/03/2009, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 62/2009/TT-BTC về việc hướng dẫn sửa đổi thông tư số 84/2008/TT-BTC – Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và nghị định số 100/2008/NĐ-CP. Các nội dung được sửa đổi chủ yếu như sau:

 

  1. Đối với các khỏan phụ cấp, trợ cấp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công sẽ có thêm các khỏan sau:

 

a) Khoản trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người nước ngoài đến cư trú tại Việt Nam. Mức trợ cấp được tính trừ căn cứ trên hợp đồng lao động hoặc thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động.

 

b) Khoản tiền mua vé máy bay khứ hồi do đơn vị sử dụng lao động chi trả  hộ (hoặc thanh toán) cho người lao động là người nước ngoài về phép mỗi năm một lần. Căn cứ để xác định là hợp đồng lao động và giá ghi trên vé máy bay từ Việt Nam đến quốc gia người nước ngoài mang quốc tịch hoặc quốc gia gia đình người nước ngoài sinh sống.

 

c) Khoản tiền học phí cho con của người nước ngoài học tại Việt Nam theo bậc học phổ thông do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ căn cứ vào hợp đồng lao động và chứng từ nộp tiền học.

 

  1. Các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ cho người lao động, thì chỉ tính vào thu nhập chịu thuế đối với các trường hợp xác định được đối tượng được hưởng; không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân đối với các khoản lợi ích không xác định được cụ thể người được hưởng. Cụ thể trong một số trường hợp như sau

 

a) Khoản tiền thuê nhà do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ: tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế chi trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (chưa bao gồm tiền thuê nhà).

 

b) Đối với khoản chi về phương tiện phục vụ đưa đón tập thể người lao động từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại thì không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động; trường hợp chỉ chuyên đưa đón riêng từng cá nhân thì phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân được đưa đón.

 

c) Đối với các khoản phí hội viên như thẻ hội viên sân gôn, sân quần vợt, thẻ sinh hoạt các câu lạc bộ văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao… nếu ghi đích danh cá nhân hoặc nhóm cá nhân sử dụng thì tính vào thu nhập chịu thuế của từng cá nhân sử dụng. Trường hợp được sử dụng chung, không ghi tên cá nhân hoặc nhóm cá nhân sử dụng thì không tính vào thu nhập chịu thuế.

 

d) Đối với các khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ, vui chơi, thể thao, giải trí thẩm mỹ… nếu chi trả ghi rõ tên cá nhân được hưởng thì tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân. Trường hợp không ghi tên cá nhân được hưởng mà chi chung cho tập thể người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế.

 

đ) Đối với khoản chi trả hộ tiền đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc chuyên môn của người lao động hoặc theo kế hoạch của đơn vị sử dụng lao động thì không tính vào thu nhập của người lao động. Trường hợp đào tạo không đúng chuyên môn nghiệp vụ hoặc không nằm trong kế hoạch của đơn vị thì phải tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.

 

e) Đối với khoản tiền ăn giữa ca: không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động nếu người sử dụng lao động trực tiếp tổ chức bữa giữa ca cho người lao động.

 

Trường hợp, đơn vị chi trả thu nhập không trực tiếp tổ chức bữa ăn ca mà chi tiền ăn ca trực tiếp cho người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế thuế của người lao động nếu mức chi phù hợp với hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Trường hợp chi cao hơn mức hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì phần chi vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.

 

Mức chi cụ thể áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức, đơn vị được phép hoạt động kinh doanh thuộc cơ quan hành chính, sự nghiệp, đảng, đoàn thể, các hội không quá mức quy định của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Đối với các doanh nghiệp ngoài  nhà nước và các tổ chức khác, mức chi do thủ trưởng đơn vị thống nhất với chủ tịch công đoàn quyết định nhưng mức tối đa cũng không vượt quá mức áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước.

 

f) Đối với khoản khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục,… không tính vào thu nhập chịu thuế nếu mức khoán chi phù hợp với quy định của Nhà nước hiện hành. Mức khoán chi áp dụng đối với từng trường hợp như sau:

 

- Đối với cán bộ, công chức và người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, đoàn thể: mức khoán chi áp dụng theo văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính.

 

- Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, các văn phòng đại diện: mức khoán chi áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

 

- Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức quốc tế, các văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài: mức khoán chi thực hiện theo quy định của Tổ chức, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài.

 

 

  1. Ngòai các nội dung quan trọng liên quan đến các khỏan thu nhập chịu thuế, không chịu thuế đã nêu ở trên, thông tư còn hướng dẫn thêm 1 số khỏan trong quy định về các khỏan phụ cấp, trợ cấp được trừ khi tính thuế; quy định rõ về đối tượng phụ thuộc là bố dượng, mẹ kế, ông bà nội ngọai, cô, gì, chú, bác, anh chị em ruột, cháu ruột; bổ sung hướng dẫn về hồ sơ chứng minh người phụ thuộc trong đó có việc cần xác nhận hay không cần xác nhận của UBND phường nơi đang cư trú;

 

  1. Thông tư cũng quy định về việc tính thuế TNDN đối với họat động chuyển nhượng chứng khóan đối với các lọai cổ phiếu chưa niêm yết trên thị trường chứng khỏan;

 

  1. Áp dụng thống nhất 1 mức khấu trừ theo tỷ lệ 10% (bỏ đi tỷ lệ 20% của thông tư 84) đối với các khỏan thu nhập không thường xuyên có giá trị từ 500,000đ trở lên khi chi trả cho các cá nhân đó (không phân biệt là có MST thu nhập cá nhân hay không).

 

Riêng trường hợp có thu nhập từ đại lý bán hàng, thu nhập từ dịch vụ thì nếu cá nhân đó chỉ có 1 nguồn thu nhập duy nhất là từ các khỏan này thì doanh nghiệp phải ước tính được thu nhập của các cá nhân này xem có vượt quá 48T/năm (đối với trường hợp độc thân) hay không thì mới tiến hành khấu trừ 10% thu nhập tuy nhiên cá nhân này phải tiến hành làm bảng cam kết theo mẫu số 23/BCK-TNCN để nộp lại cho cơ quan chi trả thu nhập để làm hồ sơ chứng minh. Doanh nghiệp sẽ tạm không khấu trừ 10% thu nhập cho trường hợp này nhưng vẫn hết năm vẫn phải lập danh sách thông báo cho cơ quan thuế biết;

 

  1. Ngòai ra thông tư cũng quy định chi tiết tính thuế TNCN đối với cá nhân, nhóm cá nhân có thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ nhận cổ tức bằng có phiếu, cố phiếu thưởng, thu nhập bằng tiền từ vốn đầu tư nhưng không nhận tiền mà ghi tăng vốn đầu tư; thuế từ quà tặng có giá trị dưới 10T đồng….

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết cơ quan này đã trình Chính phủ phương án miễn giảm thuế thu nhập cá nhân năm 2009. Phương án cuối cùng này sẽ được đưa ra để lấy ý kiến Quốc hội tại kỳ họp đầu tháng 5 tới.

Continue reading ‘Đã có phương án miễn giảm thuế thu nhập cá nhân’


Điểm 1.2.7, khoản II phần D Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) quy định: “Các tổ chức cá nhân trả tiền công,  tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ mà không ký hợp đồng lao động như tiền nhuận bút, dịch sách, giảng dạy, tiền tham gia các hiệp hội, hội đồng quản trị… có tổng mức trả thu nhập từ 500.000 đồng trở lên thì phải khấu trừ thuế trước khi chi trả theo mức: cá nhân có mã số thuế thực hiện khấu trừ 10% trên thu nhập; cá nhân không có mã số thuế thực hiện khấu trừ 20% trên thu nhập”.Theo Ban soạn thảo, việc quy định 2 mức khấu trừ nhằm khuyến khích các cá nhân trong xã hội đăng ký cấp mã số thuế TNCN, vừa góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý, cũng vừa xây dựng môi trường quản lý thuế rõ ràng,  minh bạch. Tuy nhiên, với những bộn bề công việc phải triển khai trong thời gian đầu thực hiện Luật, quy định về khấu trừ thuế TNCN lại đang vấp phải những vướng mắc, khó khăn từ thực tế.

Khó khăn đầu tiên là những điều kiện về công tác quản lý. Để triển khai cấp mã số thuế TNCN cho khoảng 10 triệu người lao động làm công ăn lương, đòi hỏi cơ quan quản lý phải có sự đầu tư cả về thời gian, nhân lực, trí lực và vật lực, nên cho dù ngành thuế cả nước đã thực hiện triển khai Luật Thuế TNCN với tinh thần tích cực, chủ động, nhưng dự kiến cũng phải đến hết quý III năm nay mới có thể hoàn thành xong công đoạn này. Như vậy có nghĩa là, trong già nửa một năm đầu thực hiện, sẽ có không ít cá nhân chưa được cấp mã số thuế và nếu áp dụng ngay quy định khấu trừ 20% đối với các khoản thu nhập vãng lai thì người lao động sẽ phải chịu thiệt thòi, cho dù lỗi không thuộc về họ.

Về phía các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động vãng lai, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề xây dựng, bốc xếp…, việc áp dụng quy định khấu trừ 20% sẽ vừa phức tạp, vừa làm tăng chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như hiện nay, vô hình chung đi ngược lại với nỗ lực của Chính phủ, các ngành các cấp đang tập trung tìm kiếm các giải pháp tháo gỡ khó khăn để ngăn chặn suy giảm và duy trì tăng trưởng kinh tế.

Thêm vào đó, trên thực tế không phải tất cả các đối tượng thuộc diện áp dụng quy định khấu trừ 10% hay 20% cho các khoản thu nhập vãng lai đều có thu nhập đến mức phải nộp thuế TNCN. Vì vậy, nếu cứ áp dụng máy móc việc khấu trừ này sẽ dẫn đến hậu quả là vừa gây phiền hà cho người lao động và cơ quan thực hiện khấu trừ, vừa buộc cơ quan thuế phải đối mặt với một khối lượng rất lớn các hồ sơ hoàn thuế vào cuối năm, trong khi chi phí này không thật sự cần thiết.

Trả lời câu hỏi về hướng giải quyết cho những vấn đề phát sinh này, một thành viên của Ban soạn thảo cho biết, trên tinh thần chủ động theo dõi, nắm bắt để khắc phục ngay những bất cập, theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp trình Bộ Tài chính quyết định, theo đó sẽ tạm bãi bỏ quy định khấu trừ 20% đối với những cá nhân không có mã số thuế để thống nhất một mức khấu trừ chung 10% trên các khoản thu nhập vãng lai của người làm công ăn lương, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Đối với các doanh nghiệp, tổ chức có sử dụng nhiều lao động theo thời vụ, nếu ký hợp đồng với người lao động từ 3 tháng trở lên thì người lao động sẽ được áp dụng quy định về giảm trừ gia cảnh và được thực hiện mức khấu trừ như người làm công có thu nhập ổn định. Đối với lao động vãng lai, không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động thực hiện các dịch vụ có thời gian dưới 3 tháng sẽ áp dụng khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% tính trên tổng thu nhập hoặc mỗi lần chi trả từ 500.000 đồng trở lên.

Cũng để hạn chế số cá nhân phải thực hiện quyết toán thuế và làm thủ tục hoàn thuế, cơ quan quản lý sẽ cho phép người lao động, nếu xét thấy thu nhập của mình thấp (dưới 48 triệu đồng/năm đối với người độc thân; dưới 67,2 triệu đồng/năm nếu phải nuôi dưỡng 01 người phụ thuộc; dưới 86,4 triệu đồng/năm nếu phải nuôi dưỡng 02 người phụ thuộc…) thì chỉ cần làm bản cam kết gửi cho đơn vị chi trả thu nhập thì sẽ không phải tính tạm khấu trừ thuế. Tuy nhiên, dù có thuộc diện phải khấu trừ 10% hay không phải khấu trừ, cá nhân có thu nhập vãng lai phát sinh vẫn phải tổng hợp chung vào thu nhập cả năm để xác định nghĩa vụ thuế phải nộp. Khi đó cơ quan thuế sẽ tính các khoản giảm trừ và tính thuế TNCN theo biểu luỹ tiến từng phần.

Mặc dù khẳng định, các giải pháp mà Tổng cục Thuế đang kiến nghị với Bộ Tài chính chắc chắn sẽ giải quyết phần nào những băn khoăn, vướng mắc của cả doanh nghiệp và người nộp thuế, đồng thời góp phần giảm bớt khó khăn cho các đơn vị chi trả thu nhập, nhưng vị thành viên Ban soạn thảo cũng thừa nhận, khi thực thi các giải pháp này, áp lực công việc đối với cơ quan thuế sẽ lớn hơn. Tuy nhiên, trong bối cảnh, toàn Đảng, toàn dân, mọi ngành, mọi cấp đều đang tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần cùng cả nước ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, thì dẫu có phải gánh chịu thêm gian khó, ngành thuế sẽ cố gắng để vượt qua. Trong nỗ lực của mình, ngành thuế cũng mong muốn nhận được sự phối hợp cộng tác nhiều hơn nữa của các đơn vị chi trả thu nhập trong việc cung cấp thông tin về người nộp thuế để cơ quan thuế có đầy đủ dữ liệu kiểm soát chính xác thu nhập của người lao động, đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ thuế đối với ngân sách nhà nước./.

 Tạp chí Thuế

 

 

Theo quy định tại Phần III Mục 1.3 Điểm b Thông tư 129/2008 thì: Đối với hàng hóa mua nào trên 20 triệu đồng muốn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào phải có “chứng từ thanh toán qua ngân hàng”. 

A. Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng thì có hướng dẫn cụ thể

Theo quy định tại Phần B Mục III Điểm 1.3 Khoản c3 Thông tư 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 thì:

Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì bên nhận uỷ thác xuất khẩu phải thanh toán với nước ngoài qua ngân hàng.

Các trường hợp thanh toán dưới đây cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng:

+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được thanh toán cấn trừ vào khoản tiền vay nợ nước ngoài;

+ Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu sử dụng tiền thanh toán hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu để góp vốn với cơ sở nhập khẩu ở nước ngoài;

+ Trường hợp cơ sở xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng nhưng phía nước ngoài uỷ quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán và việc thanh toán theo uỷ quyền phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu ;  

+ Trường hợp phía nước ngoài uỷ quyền cho Văn phòng đại diện tại Việt Nam thực hiện thanh toán vào tài khoản của bên xuất khẩu và việc uỷ quyền thanh toán nêu trên có quy định trong hợp đồng xuất khẩu ;

+ Trường hợp phía nước ngoài yêu cầu bên thứ 3 là tổ chức ở Việt Nam thanh toán bù trừ công nợ với phía nước ngoài bằng thực hiện thanh toán qua ngân hàng số tiền phía nước ngoài phải thanh toán cho bên xuất khẩu và việc yêu cầu thanh toán bù trừ công nợ nêu trên có quy định trong hợp đồng xuất khẩu ;  

+ Trường hợp phía nước ngoài thanh toán từ tài khoản tiền gửi vãng lai  của phía nước ngoài mở tại các tổ chức tín dụng tại Việt Nam và việc thanh toán này phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu ;  

+ Trường hợp xuất khẩu lao động mà cơ sở kinh doanh xuất khẩu lao động thu tiền trực tiếp của người lao động và có chứng từ thu tiền mặt của người lao động ;

+ Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hóa để bán tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài, nếu thu và chuyển về nước bằng tiền mặt ngoại tệ tại nước tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại cơ sở kinh doanh có chứng từ kê khai với cơ quan Hải quan về tiền ngoại tệ thu được do bán hàng hóa chuyển về nước và chứng từ nộp tiền vào ngân hàng tại Việt Nam ;

+ Trường hợp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ để trả nợ nước ngoài cho Chính phủ thì phải có xác nhận của ngân hàng ngoại thương về lô hàng xuất khẩu đã được phía nước ngoài chấp nhận trừ nợ hoặc xác nhận bộ chứng từ đã được gửi cho phía nước ngoài để trừ nợ; chứng từ thanh toán thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính ;

+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng hàng là trường hợp xuất khẩu hàng hóa (kể cả gia công hàng hóa xuất khẩu), dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài (gọi tắt là phía nước ngoài) nhưng việc thanh toán giữa doanh nghiệp Việt Nam và phía nước ngoài bằng hình thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, tiền công gia công hàng hóa xuất khẩu với giá trị hàng hóa, dịch vụ mua của phía nước ngoài ;

B. Đối với hàng hoá mua bán nội địa:

Hiện vẫn chưa có hướng dẫn, ngay cả Công văn. Có thể nói, khi thanh toán sử dụng nghiệp vụ ngân hàng chúng ta có 3 tình huống:

1.     Dùng tiền mặt chuyển vào tài khoản bên bán (thực hiện tại Ngân hàng).

2.     Dùng dịch vụ chuyển tiến của ngân hàng để chuyển tiền mặt cho đại diện hợp pháp (Giám – Tổng Giám đốc) bên bán (thực hiện tại Ngân hàng).

3.     Chuyển tiền từ tài khoản bên mua sang tài khoản bên bán (thực hiện tại Ngân hàng).

Ba trường hợp trên đều được ngân hàng ghi phiếu có nêu nội dung theo yêu cầu người chuyển (Doanh nghiệp A chuyển trả tiền mua hàng cho Doanh nghiệp B).

Nhìn vào 3 trường hợp trên, Trường hợp thứ 3 là miễn bàn rồi phải không ACE? – Nó chắc chắn được xem là “thanh toán qua ngân hàng”. Vậy chỉ cần trả lời câu hỏi thứ hai là đủ rồi.

Trước hết, theo ý kiến tôi thì việc quy định điều kiện để khấu trừ thuế GTGT (phải thanh toán qua ngân hàng) là nhằm hạn chế tình trạng mua bán hóa đơn, kiểm soát được giao dịch và chuẩn bị dần cho chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt (giống như thanh toán lương qua ATM vậy mà); Như vậy:

B.1. Giả sử đối với trường hợp thứ nhất: Dùng tiền mặt chuyển vào tài khoản bên bán. Chuyện gì có thể xảy ra? Có 2 trường hợp:

+ Nếu việc mua bán này chỉ là mua bán hóa đơn;

Tất nhiên bên mua sẽ không thanh toán đúng số tiền trên hóa đơn. Nên việc thanh toán số tiền trên hóa đơn chỉ là một thủ tục hợp thức hóa cho cái hóa đơn không đó thôi. Do đó, thông thường chỉ thanh tóan bằng tiền mặt. Nhưng bây giờ luật quy định phải thanh toán qua ngân hàng thì sao? Nếu việc nộp tiền vào tài khoản của bên bán đươc xem là thanh toán qua ngân hàng. Thì doanh nghiệp sẽ có thể hành xử “ma mãnh” theo kiểu, bên xuất hóa đơn tự nộp tiền vào tài khỏan của chính mình để cung cấp chừng từ thanh toán cho bên lấy hóa đơn (điều này “dễ ợt” mà). Vì chỉ có bên mua mới cần chứng từ chứng minh việc thanh toán qua ngân hàng. Để thực hiện giải pháp này, bên bán chỉ cần có lượng tiền luân chuyển và người nộp tiền vào cũng có thể chính là người rút tiền ra ngay sau đó. Hixhix lại là “ma” nữa rồi.

+ Nếu việc mua bán này chỉ là mua bán thực;

Đối với doanh nghiệp “trung thực” thì việc thanh toán bằng cách nộp tiền vào tài khoản bên bán là OK, không có gì phải bàn. Tuy nhiên, ở đây lại có 1 rủi ro đó là chúng ta có thể bị đồng loã với những doanh nghiệp “ma mãnh” ở trên. Và do vậy, có nguy cơ sẽ không được khấu trừ thuế GTGT.

Nói cách khác, trong lúc mấy pác Nhà nước chưa hướng dẫn, muốn an toàn thì ACE đừng sử dụng cách này. Nếu trong trường hợp bắt buộc sử dụng thì phải tìm cách nào để chứng minh thuyết phục rằng tiền của Công ty nộp vào tài khoản bên bán để thanh toán cho một đơn hàng cụ thể. Ví dụ: Sử dụng thêm Phiếu chi của Công ty ghi tên nhân viên đi nộp tiền, Phiếu chi Công ty ghi nội dung đi nộp tiền là:  nộp tiền vài tài khoản của “Công ty bán” nhằm Thanh toán hoá đơn số mấy? ngày/tháng/năm. Đồng thời, Giấy nộp tiền tại ngân hàng ghi đúng nôi dung đã ghi trên Phiếu chi Công ty, có đóng dấu đã thu tiền của ngân hàng. Làm như thế mới hy vọng mấy anh Thuế “chấp nhận cho”.

B.2. Còn đối với trường hợp thứ hai, Dùng dịch vụ chuyển tiến của ngân hàng để chuyển tiền mặt cho đại diện hợp pháp (Giám – Tổng Giám đốc) bên bán , nhìn chung cũng không có gì khác so với trường hợp thứ nhất. Nó vẫn là sự luân chuyển tiền mặt và do đó, chắc sẽ không được “Thuế” chấp nhận đâu.

B.3. Tuy nhiên, phân tích xong mấy trường hợp trên, chúng ta lại thấy một kẽ hở nữa rồi. Việc quy định phải thanh toán qua ngân hàng sẽ không đảm bảo được mục đích đề ra là kiểm soát giao dịch và hạn chế lưu thông tiền mặt và các doanh nghiệp vẫn có thể lách luật. Tôi giả sử nhé, Công ty A và Công ty B (có tài khoản hẳn hoi), Công ty A lập hoá đơn bán cho Công ty B (đây là mua bán khống). Vậy họ sẽ làm như thế nào? Công ty A hoàn toàn có thể “giao tiền mặt” cho Công ty B nộp vào tài khoản của mình và chuyển khoản cho Công ty A. Tất nhiên, nếu thanh tra kỹ thì có thể phát hiện ra, nhưng khả năng bị thanh tra và có đủ thông tin, tài liệu để thanh tra là bao nhiêu? – chắc không nhiều phải không các bạn?

 

 Theo Saga

 


BỘ TÀI CHÍNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

———-

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số:         /BTC-CST

————————————-

V/v thực hiện Thông tư số 03/2009/TT-BTC

Hà Nội, ngày      tháng 02 năm 2009

 

Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

 

Trong quá trình triển khai thực hiện Thông tư số 03/2009/TT-BTC ngày 13/01/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện giảm, gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/ 2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, Bộ Tài chính nhận được kiến nghị từ một số đơn vị về lựa chọn phương pháp xác định số thuế TNDN phải nộp của quý IV năm 2008. Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Tại điểm a khoản 2 Mục II Thông tư số 03/2009/TT-BTC có hướng dẫn: “Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn phương pháp xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm theo phương pháp hạch toán doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế của quý IV năm 2008 thì doanh nghiệp phải lập báo cáo kết quả kinh doanh quý IV năm 2008 và nộp kèm tờ khai”.

Tại khoản 5.1 Mục I Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế có hướng dẫn: “Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan  thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế”.

Continue reading ‘Hướng dẫn về việc thực hiện thông tư 03/2009/TT-BTC – Giảm 30% thuế TNDN theo quy định’